Wednesday, March 25, 2015

Lịch Sử một Chuyện Tình

.                                                                                                                                                                                             



                     Dạ Cổ Hoài Lang
                           -nối dài nỗi nhớ…

                                                                                                         Tùy Bút *  Phạm Bá 

Không phải một sự ngẫu nhiên mà người viết có thể viết về chuyện tình của một bài ca vọng cổ đã đi vào lịch sử “Tài tử đờn ca Nam Bộ”. Cũng chẳng phải là người viết sinh trưởng từ vùng đất hiền hoà Phương Nam, nắng sớm mưa chiều, nhưng người viết đã được lớn lên trong cái nôi đồng rộng sông dài, đã khiến một tâm hồn vốn mến yêu văn nghệ nhất là thú cầm ca, lại một lần lạc vào những âm thanh – nơi những tấu khúc của Chín Con Rồng đã tạo ra bản giao hưởng Biển Đông, khi  Thanh Hương, người nghệ sĩ cải lương hay nhất của sân khấu cổ nhạc Miền Bắc bây giờ cất tiếng ca khiến bao người phải bùi ngùi cảm động khi người nghệ sĩ xuống sáu câu vọng cổ nghe ra thật là “mùi”. Từ phong cách trình diễn, nâng niu từng cung bậc của ca từ đến chất giọng ngọt ngào phát ra từ một nghệ sĩ có tên tuổi trên sân khấu nhà hát Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô – nguyên là dấu ấn cuối cùng của Đoàn Kim Chung trước năm 1954 để lại, đã dạt dào xâm lấn tâm hồn tôi. Phần vì trong bài ca có câu “Từ là từ phu tướng, bửu sắc kiếm phong lên đàng…”, khiến tôi phải suy tư về đề tài của bài viết: “Dạ cổ hoài lang” (Đêm xưa nhớ chàng)
Đôi giòng lịch sử …
Tương truyền vào một đêm cuối năm đầu thế kỷ 20 những âm thanh da diết như lén thoát ra từ những ngón tay vàng qua tiếng nguyệt cầm điêu luyện của Sáu Lầu. Tâm trạng và hình ảnh người chinh phụ trong phút giây bịn rịn tiễn đưa chồng ra ngoài quan ải trong Chinh Phụ Ngâm Khúc như đã vận vào người nghệ sĩ:
          Hà-lương chia rẽ đường này
          Bên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi…(câu 43, 44)
Và còn hơn thế nữa, người nghệ sĩ còn liên tưởng đến sự tích bài thơ “Chức Cẩm Hồi Vân” 1, qua tâm trạng của nàng Tô Huệ - vợ Vương Thao 2, khi chồng nàng trấn đóng ngoài quan ải. Nàng năm canh thui thủi một mình ngóng trông tin chồng như mong tin nhạn. Trong nỗi buồn đơn côi ấy đã khiến nàng làm một bài thơ theo thể Thất Ngôn Cổ Phong 280 câu thêu lên gấm đem dâng Vua. Vì quá cảm động khi xem đến bài thơ, thương xót người vợ hiền đêm đêm một mình một bóng, Vua đã ban chỉ sớm cho vợ chồng xum họp. Rồi đến một ngày, như cố dồn nén tất cả cảm xúc của mình để đếm từng niềm riêng nỗi nhớ, Cao Văn Lầu đã phải viết ra ca từ “Dạ Cổ Hoài Lang”:
                   Từ là từ phu tướng
Đã đăng trong
 Báo Xuân BÚT TRE Ất Mùi 2015 AZ
                   Bảo sắc kiếm phong lên đàng
                   Vào ra luống trông tin chàng
                   Đêm năm canh mơ màng
                   Em luống trông tin nhạn
                   Ôi ! gan vàng quặn đau
                   Đường dầu xa ong bướm
                   Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
                   Còn đêm luống trông tin nhạn
                   Ngày mòn mỏi như đá vọng phu
                   Vọng phu vọng, luống trông tin chàng
                   Lòng tin chớ phụ phàng
                   Chàng hỡi chàng có hay
                   Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
                   Biết bao thuở đó đây xum vầy
                   Duyên sắt cầm đừng lạt phai
                   Thiếp cũng nguyện cho chàng
                   Nguyện cho chàng hai chữ bình an
                   Mau trở lại gia đình
                   Cho én nhạn hợp đôi.

Tiếng nguyệt cầm vừa dứt chính là nỗi niềm ray rứt của kẻ ở người đi giữa Sáu Lầu và vợ trong nỗi bất hạnh chia lìa của một cặp vợ chồng chưa có con kế tự.

Sáu Lầu tên thực là Cao Văn Lầu, sinh năm 1890, là con thứ sáu trong một gia đình nghèo khó ở đất Long An. Vì hoàn cảnh gia đình bần hàn quẫn bách, cha ông đã quyết định đưa cả gia đình về Bạc Liêu lập nghiệp. Ông thân sinh ra Sáu Lầu vốn là người ưa thích nghiệp cầm ca, đã quyết định gửi Sáu Lầu đến thụ giáo tại một lò cổ nhạc.
Vào đầu thế kỷ 20, phong trào đàn ca tài tử Nam Bộ ở Bạc Liêu hơn hẳn các phong trào trong vùng Miền Tây và Miền Đông và ông thân sinh đã quyết định gửi ông đến lò cổ nhạc nổi tiếng nhất của ông Nhạc Khị - Lê Tài Khị, được người đương thời tôn vinh là người chơi nhạc tài tử giỏi nhất. Từ đó, Sáu Lầu trở thành người học trò xuất sắc có một không hai của Lò cổ nhạc ông Nhạc Khị.
Càng học, Sáu Lầu càng tỏ ra là một nhân tài có thể kế nghiệp thầy Nhạc Khị.
Ông được nhạc sư cho điều khiển ban Nhạc Lễ lớn cùng với các thầy đờn từ Lục Tỉnh kéo về thi thố tài năng. Có lần thầy Nhạc Khị đã phải thốt lên: “Thằng Lầu xứng đáng thay mặt thầy đi thi, mà không phải lo lắng gì cả.”
Nếu cung đàn và tiếng hát của Sáu Lầu đã ngự trị những sân chơi điệu nghệ thì đường tình ái của ông lại gặp nhiều trắc trở dở dang.
Số là thầy Nhạc Khị có cô con gái tên là Hai Thân, sắc nước tài cao, đã khiến Sáu Lầu yêu trộm nhớ thầm. Như một duyên tình từ tiền kiếp đã đưa đẩy đến ông như chuyện kể của người xưa: “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách; Sắc bất ba đào dị nịch nhân”. 3
 Nhưng khốn nỗi, trong cảnh nhà nghèo khó, biết mộng ước khó thành, Sáu Lầu đành lặng lẽ bỏ đi, lánh xa người mình thương, giã từ thầy học…
Thời gian sau, Sáu Lầu lập riêng một ban Nhạc Lễ để phục vụ địa phương lối xóm. Chẳng bao lâu, tiêng tăm ban nhạc của ông đồn vang khắp miền Lục Tỉnh.
Vào năm 1916, cô Hai Thân bước lên xe hoa về nhà chồng và cùng lúc Sáu Lầu cũng được gia đình cưới cô Trần Thị Tấn về làm vợ. Cuộc hôn nhân được làng trên xóm dưới ngợi khen là xứng đôi vừa lứa. Nhưng lấy nhau được ba năm, vợ chồng vẫn chưa có lấy một mụn con để nối dõi tông đường, khiến mẹ Sáu Lầu đay nghiến nàng dâu: “Tam niên vô tử bất thành thê”. Dù vợ chồng thương yêu nhau hết mực, nhưng không thể sống trong cái cảnh khắc nghiệt mẹ chồng nàng dâu, vợ ông đã bỏ trốn về nhà với cha mẹ đẻ. Ai cũng tưởng vậy. Nhưng thực sự nàng không về nhà cha mẹ mình mà xin vào làm công quả cho một ngôi chùa trong vùng. Còn ông cũng bị me mình canh chừng như bị quản thúc tại gia khiến không dễ gì thoát ra đi tìm vợ được. Rồi một đêm cuối năm, trong cái cô đơn lạnh lẽo nơi thư phòng, phần thương thân vợ, phần tủi phận mình, Sáu Lầu đã gửi lòng vào tiếng nguyệt cầm ai oán: “Dạ cổ hoài lang”. Có ngờ đâu bản Dạ Cổ Hoài Lang ra đời lại vang dội khắp vùng Bạc Liêu thời đó. Nhưng duyên tình “đôi ta tình nặng nghĩa dày, có xa nhau đi nữa ba vạn chin ngàn ngày mới xa” (cd). Rồi một ngày, bên “cây đa bến cũ, con đò năm xưa”, vợ chồng lại trùng phùng hạnh ngộ, vào lúc vợ ông thọ thai sau hạ sanh được một bé trai. Cả tỉnh Bạc Liêu lại thêm một lần truyền khẩu: “Con thầy đờn có khác…đợi cho tía viết xong bản nhạc rồi mới chịu ra đời”. Sau đó gia đình lại xum họp an vui và hai người sau có với nhau 7 mụn con, 5 trai 2 gái.
Đó là tình sử bài “Dạ cổ hoài lang”.

 
          Cho dù cùng thời với ông Sáu Lầu còn có nhiều nhạc sĩ nổi danh khác như Mộng Văn, Ba Chột…với những bản Tứ Bửu Liên Thành, …từ Cổ Bản sang Nam Xuân, từ Liên Nam sang Văn Thiên Tường và buồn da diết hơn nữa trong khúc Phượng Cầu Hoàng, như bài Dạ Cổ Hoài Lang quả đã làm phong phú thêm cho dòng âm nhạc tài tử Nam Bộ và là một bài cho đến bây giờ buớc qua nhiều thiên niên kỷ, vẫn được tôn vinh là tiền thân của Sáu câu Vọng Cổ - một dòng âm nhạc truyền thống của đất Phương Nam.

                                                    
Nhạc sĩ Sáu Lầu và chính những nhạc sĩ đương thời nói trên là những người tiên phong làm rạng danh nền cổ nhạc Việt Nam vào những năm 1935-1938 và nhất là sau ngày chiến tranh chấm dứt, thú đờn ca tài tử vừa cao sang vừa dân dã đã đi vào lòng dân tộc nay lại được thăng hoa cùng với những tấu khúc của Cửu Long Giang.
Ước mong một ngày nào đó không xa, người viết được làm một chuyến lãng du về Miền Tây, được đứng bên bờ sông đỏ ngầu phù sa nước lớn, được lắng nghe tiếng đờn ca ngọt lịm của những tốp ca tài tử, cùng để được thưởng thức khô mực và men cay đế Gò Đen…
          Mong lắm thay !
                                                                                                          Phạm Bá                                                                   
Tài liệu tham khảo:
- Nam Bộ Xưa và Nay                  - Tự Điển Thành Ngữ Điển Tích    
- Nghệ thuật Sân Khấu VN.          - Và một số tư liệu khác.
  1. Dệt bài thơ lên gấm dâng Vua, xin cho chồng được trở về.
2.   Có sách chép là Đậu Thao
3.   Đối đáp văn học đời Nhà Lê giữa thầy đồ Đàm Thuận Huy và trò Nguyễn Giản Thanh
      vì Giản Thanh đã say mê con gái lớn của Thầy Đồ. Một chiều vào giờ tan học, đúng
      vào lúc trời mưa to gió lớn, học trò không ai ra về được, Thầy ra câu đối:
     Thầy:  Mưa không phải là khoá cửa, mà vẫn lưu được khách ở lại trong nhà.
     Trò  :   Sắc đẹp của đàn bà không phải là sóng nước mà vẫn nhận chìm được người ta.
     
     

Saturday, October 11, 2014

Bút Ký : Hành Trình về Đất Phật

.                                                                                                                                                                                             

 Non Thiêng Yên Tử

  Ỷ Nguyên

     Trong những lần về thăm miền Bắc trước đây, chúng tôi đã có ý định đi thăm chùa Yên Tử, nhưng có lẽ cơ duyên chưa tới nên kỳ này sau hơn ba ngày lưu lại thành phố Hạ Long thăm viếng họ hàng cùng là về quê tảo mộ, chúng tôi xếp đặt chương trình đi thăm Non Thiêng Yên Tử trên đường về Hải Phòng. 
                                                 
 
                                                
     Chúng tôi đã đọc nhiều tài liệu nói về vùng “Đất Tổ Phật Giáo Việt Nam” nên sự tò mò đã thúc đẩy chúng tôi phải đi đến tận nơi hầu thoả mãn ước mơ tâm linh của mình. Tài liệu tham khảo cho biết Trúc Lâm Yên Tử thuộc địa phận xã Thược Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.  Hầu hết các Chùa, Am, Tháp đều nằm trong khu rừng quốc gia Yên Tử, có hệ sinh thái đa dạng phong phú của rừng nhiệt đới Á châu.  Núi Yên Tử là một đỉnh cao khoảng hơn 1,000m trong dẫy núi Đông Triều vùng Tây Bắc.  Yên Tử có nhiều tên gọi khác nhau: Tượng Sơn, Bạch vân Sơn, Phù Vân Sơn, Linh Sơn… Danh sơn Yên Tử đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, một vị vua hiền từ đạo đức, sau hai lần đánh đuổi được giặc Nguyên và Mông Cổ xây dựng lại đất nước an bình.  Về  sau Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông và xuất gia về Yên Tử tu hành, lấy pháp hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà, pháp danh là Điều Ngự Giác Hoàng.  Ngài sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm (Tam Tổ: Đệ Nhất Tổ Trần Nhân Tông, Đệ Nhị Tổ Pháp Loa, Đệ Tam Tổ Huyền Quang).  Từ đó Yên Tử trở thành Trung Tâm Phật Giáo của quốc gia Đại Việt.  Với tinh thần nhập thế và yêu nước, giáo lý Thiền Phái Trúc Lâm của ngài trở thành nền tảng tư tưởng dựng nước và giữ nước đời Trần có ảnh hưởng lớn lao đến Phật Giáo Việt Nam sau này. Do đó, chùa Yên Tử không chỉ là một di tích lịch sử từ thời kỳ xây dựng đất nước của các vị vua chúa xưa kia, mà bây giờ còn được coi là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam.  Hàng năm vào những ngày hội lớn, nhất là vào mùa lễ Hội Yên Tử, từ mùng 10 tháng Giêng AL, chùa Yên Tử đã tiếp đón không biết bao nhiêu Phật tử và du khách từ khắp mọi miền đất nước về chiêm bái. 
  Để chuẩn bị cho cuộc thăm viếng đặc biệt này, chúng tôi dậy thực sớm sáng ngày hôm đó.  Cũng may thời tiết mát mẻ, bầu trời quang đãng dễ chịu có lẽ nhờ trận mưa tầm tã ngày hôm trước nên chúng tôi hy vọng cuộc leo núi sẽ thoải mái và thích thú lắm đây.  Cùng đi với chúng tôi có chú em họ của nhà tôi và một người cháu là tài xế.  Chúng tôi cảm thấy yên tâm hơn vì hướng dẫn viên và tài xế đều là người nhà và hiện tại họ đều sinh sống tại tỉnh Quảng Ninh.  
            Từ thành phố Hạ Long, sau khoảng hơn một giờ lái xe chúng tôi đã tới địa phận thành phố Uông Bí.  Mọi người có mặt tại chùa Trình (chùa Bí Thượng) trải qua một đoạn đường bậc thang dài và dốc.  Chùa Trình nằm trong quần thể núi Yên Tử, trên một vùng rừng núi bao la dưới những hàng cây cổ thụ rợp xanh bóng mát.  Trước tiên, chúng tôi phải vào trình bái Long Thần Hộ Pháp tại đây để có một niềm tin vững chắc cho cuộc hành hương được bình an. Có lẽ sự tin tưởng này đã là một tập quán tín ngưỡng không thể thay đổi của Phật Tử.                                     


             Rời khu chùa Trình, chúng tôi lái xe thẳng tới khu du lịch chùa Yên Tử. Vợ chồng tôi và chú em theo lộ trình tà tà qua các khu bán đồ lưu niệm, tôi chưa muốn mua sắm gì lúc này vì nghe nói còn phải leo núi cao, mang nặng chẳng nên. Thời gian này đang trong mùa Lễ Phật Đản nên cờ xí treo giăng khắp nơi. Vào giờ trưa thấy bụng hơi cồn cào, gặp một bà bán bắp nếp luộc bên đường, tôi sà vào mua ít cái vừa đi vừa gặm cho chắc bụng. Nhìn sang hai bên đường thấy có nhiều quán ăn: “Cơm-Bún-Phở-Nhà Trọ bình dân” nhưng chúng tôi chả dám, vẫn vướng cái tật ngại ăn quán lạ bên đường. Tại đây cũng có xe ôm hoặc ô tô điện đưa đón du khách lên ga cáp treo, nhưng chúng tôi lại muốn thử đôi chân và sức khoẻ của mình nên cứ thủng thỉnh theo lộ trình tiến bước.  Được biết, du khách sẽ phải đi tới hai lần cáp treo cộng thêm những đoạn đường leo bậc thang đá ngoằn ngoèo mới lên tới chùa Đồng ở chót vót trên đỉnh núi.  Thiết nghĩ thiên hạ lên được tới chùa Đồng chắc hẳn mình cũng phải lên tới nơi đó được chứ ! Đợi xem sự thử thách của chúng tôi sẽ chính xác đến cỡ nào? Tôi tin là mình sẽ hoàn thành cuộc leo núi này.
            Đứng trước quầy bán vé, tôi thấy một bảng ghi giá vé, phía dưới có hàng chữ: “Quí vị du khách trên 65 tuổi xin xuất trình thẻ CMND”.  Tôi tò mò hỏi cô bán vé thế nghĩa là sao và được cô cho biết những ai trên 65 tuổi được miễn mua vé.  Ồ, hay quá ! Thế là hai chúng tôi khỏi phải trả tiền vé. Tiết kiệm được 400 ngàn đồng VN ($20US) để dành vào việc làm từ thiện coi bộ có lý.  Riêng chú em phải chi ra 200 ngàn.  À ra thế, có nhiều người lớn tuổi sức khoẻ không bảo đảm, có thể không leo lên được tới chùa Đồng ở trên đỉnh cao do đó không cần phải mua vé. Hai chúng tôi nhìn nhau mỉm cười thông cảm, thế ra mình đã “lão” rồi sao? Từ hôm rời Mỹ quốc, tôi luôn luôn cầu nguyện cho mình đừng gặp trở ngại nắng gió bất thường mà ngã qụy thì hỏng hết chương trình du lịch, vì thế mấy ngày ở Hà Nội, Thanh Hóa, rồi Hải Phòng và Quảng Ninh chúng tôi rất dè dặt trong việc ăn uống và giờ giấc ngủ nghê cũng phải theo đúng mức vì rằng thời tiết nóng nực ở Việt Nam đôi khi cũng làm chúng tôi chẳng cảm thấy dễ chịu chút nào. 


           Lúc xưa vì chưa có cáp treo, khách hành hương phải leo núi bằng chính đôi chân của mình cả ngày trời qua hàng ngàn bậc đá, đường rừng gập ghềnh dài tới 6km rất vất vả cam go, khiến đôi khi họ phải ngủ trọ ở dọc đường để tiếp nối cuộc hành trình vào sáng hôm sau. Ngày nay đã có tới hai đường cáp treo để thu ngắn những đoạn đường leo núi, giúp du khách dễ dàng trong việc tham quan núi Yên Tử.  Và rồi chẳng mấy chốc chúng tôi đã leo tới nhà ga cáp treo thứ nhất (cáp treo Hoàng Long). Ngồi trong lồng kính của cáp treo, nhìn xuống thung lũng sâu thăm thẳm bên dưới, chúng tôi có cảm giác lâng lâng trước cảnh núi rừng hùng vĩ với những lớp mây trắng bàng bạc lơ lửng bềnh bồng phủ kín không gian. Tự nhiên tôi cảm thấy mình quá nhỏ bé và tầm thường trước vũ trụ bao la của đất trời trên đỉnh thiêng của núi rừng Yên Tử.  Cứ thế giây cáp treo đưa chúng tôi lên cao dần. Trong tầm mắt chúng tôi toàn cảnh rừng núi trùng trùng, điệp điệp phủ đầy cây Tùng, cây Đại cao xanh, với rừng trúc xanh rì đan mắc chằng chịt vào nhau trông thực lạ mắt. Trúc mọc khắp nơi nơi, do đó chùa Yên Tử còn được gọi là Trúc Lâm Yên Tử. Xa xa, ngôi Thiền Viện và nhiều Am Thất ẩn hiện trong rừng cây trông như những bức tranh linh động, thật đẹp.  Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử là nơi xưa kia đức vua Trần Nhân Tông tu hành, truyền kinh, giảng đạo.  Rất tiếc chúng tôi không thể viếng thăm được vì đường cáp không dừng gần nơi đấy, phải đi bằng đường mòn khác, vả lại chúng tôi cũng không có đủ thời giờ để đi bộ đến nơi.  So ra cáp treo tại núi Yên Tử có vẻ văn minh hơn đường cáp treo dài nhất nước Mỹ có tên Sandia Peek tại thành phố Albuquerque, New Mexico nơi chúng tôi sinh sống trước đây.  Hai tuyến cáp treo Hoàng Long và Bạch Long được kiến trúc rất hiện đại đã tạo cho hệ thống cáp treo Yên Tử có môt vẻ đẹp riêng biệt, mang đậm nét văn hóa Việt giữa núi rừng Yên Tử kỳ vĩ và được coi là một hệ thống cáp treo độc đáo nhất Viêt Nam bây giờ.
            Rời cáp treo thứ nhất, chúng tôi bắt đầu leo lên từng bực thang đá nhẵn, đều đặn xếp bậc thực công phu thành từng hàng, từng lớp.  Tôi phân vân trong bụng và tự hỏi làm sao lúc xưa người ta có thể đưa được những tảng đá to như thế ấy từ dưới đất lên trên núi cao để xây dựng công trình như thể đúc khuôn? Nghĩ đến, mình phải cảm phục và biết ơn những bàn tay và khối óc của người xưa đã tạo dựng ra cảnh trí lịch sử này. Từng bước, từng bước chúng tôi cứ thế mà leo lên.  Tôi vừa đi vừa lâm râm niệm Phật để làm ngắn lại đường dài.  Quả thực tôi không dám nhìn lên vì bậc thang quá cao và quá dài lại trơn tuột vì nước mưa còn đọng trên mặt đá, nên chỉ dám nhìn xuống chân mình theo từng bước, một cách thận trọng.  Một tay cầm dù, tay kia cầm cây gậy tre mà nhân viên cáp treo đưa cho tôi khi bước ra khỏi ga cáp. Vì vậy cây gậy này đã giúp tôi lấy thăng bằng trong từng bước leo lên.  Leo lên khoảng chừng vài chục bậc đá tôi lại dừng chân để thở, rồi lại tiếp tục leo thêm.  Chưa gì mà tôi đã mệt khướt.  Mệt thì mệt nhưng trong lòng vẫn cảm thấy nôn nóng và hăng say chưa thối chí khiến đôi chân vẫn thoăn thoắt bước đều. Tôi vẫn còn muốn ngắm nhìn cảnh sắc thiên nhiên của núi rừng trong làn mây trắng mong manh.  Ôi! thực tuyệt vời, tôi dừng lại đôi phút, vươn hai tay lên khỏi đầu khoan khoái đón nhận làn không khí trong lành như đang len vào lồng ngực, tôi nhắm mắt để tận hưởng… một không gian tĩnh lặng huyền ảo!  Còn gì khoái cảm cho bằng khi quanh tôi chỉ nghe tiếng chim ca ríu rít, gió rừng xào xạc hòa cùng tiếng mõ lời kinh đều đều từ các Am Thất vọng ra. Ông xã tôi và chú em đi trước quá xa, đứng lại đợi tôi.  Hôm nay là ngày thường và chưa đến ngày Lễ Phật Đản nên du khách đi hành hương không đông lắm.  Hầu hết họ đến từ các tỉnh xa như Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Nha Trang và cả Saigòn.  Thấy chúng tôi lớn tuổi mà còn leo núi khoẻ khoắn họ rất ngạc nhiên ngợi khen làm tôi lên tinh thần và phấn khởi leo lên, leo lên. 
 
        
            Theo lộ trình chúng tôi dừng lại chiêm bái Tổ Huệ Quang Kim Tháp nằm trong Lăng Quy Đức được xây dựng từ năm 1309 sau khi Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch và đây chính là nơi lưu giữ xá lợi của Ngài. Trong tháp thờ tượng Phật Hoàng ngồi thiền.  Đế tháp được trang trí hoa văn sóng nước và đài sen khắc trạm tinh tế, phía sau là đường đi lát gạch Hoa Cúc mang đậm nét văn hóa và lịch sử đời Trần.  Xung quanh Tháp Tổ là những cây Đại, cây Tùng cổ kính cùng nhiều ngôi Tháp, ngôi Mộ của các thiền sư đã tu hành ở Yên Tử, nên khu vực này còn được gọi là Vườn Tháp Huệ Quang. Từ đây chúng tôi sẽ phải leo lên một đoạn bậc đá rất cao và rất dài để tới ngôi cổ tự Hoa Yên.  Chú em và nhà tôi sợ tôi leo lên không nổi, đứng đợi ở phía trên nhìn xuống ái ngại.  Mô Phật! Tôi vừa niệm Phật vừa ra dấu cho hai người chứng tỏ sức khoẻ cuả tôi coi như OK và tôi có thể tiếp nối cuộc hành trình mới vừa bắt đầu.  Cùng bước lên bậc thang với tôi lúc ấy có nhiều khách hành hương trông có vẻ ít tuổi hơn tôi nhiều nhưng họ cũng phải dừng lại nhiều đoạn để nghỉ lấy sức.  Có điều tôi nhận thấy mọi người đều lộ vẻ an vui tự tại.  Nhiều người đem theo hoa quả và đèn nhang lễ Phật.  Họ không dùng đến gậy như tôi mà vẫn thong thả bước lên bậc thang đá vững vàng, đúng là tuổi trẻ có khác.  Và rồi chúng tôi đã lên tới chùa Hoa Yên sau một đoạn dài leo dốc bậc đá thực chật vật.  Chùa này được coi là ngôi chùa chính trong quần thể chùa Yên Tử và còn có tên là chùa Cả, ngoài ra vì nằm trên độ cao của núi Yên Tử nên luôn luôn có mây mù che phủ do đó chùa còn có tên là Chùa Phù Vân hay Chùa Vân Yên. Trước cửa chùa có ba cây đại thụ trên 700 năm tuổi thọ do Tam Tổ Trúc Lâm vun trồng.  Tôi ghé vào chùa khấn vái và cúng dường trong khi ông xã tôi lo chụp hình cảnh núi rừng cùng những tàng cây cổ thụ.
             Hôm đó, vì đến đây đã xế trưa nên chúng tôi không có đủ thời giờ để đi thăm viếng và chiêm bái hết mọi ngôi chùa nằm rải rác ở nhiều nơi trên núi Yên Tử như:  Chùa Cẩm Thực, Chùa Bảo Sái, chùa Một Mái, chùa Giải Oan, chùa Suối Tắm, chùa Vân Tiên, tháp Vọng Tiên Cung cùng những thắng cảnh như Tượng Đá An Kỳ Sinh, Thác Vàng, Thác Bạc, Đường Tùng Cổ, khu Mai Vàng Yên Tử và đặc biệt là suối Giải Oan.  Riêng đạo tràng Giải Oan và suối Giải Oan đã ghi lại một di tích lịch sử của đời vua Trần Nhân Tông khi Ngài từ bỏ ngai vàng tìm về cửa Phật trên Núi Yên Tử.  Được nghe kể, các cung tần mỹ nữ của ngài đã ngăn cản và khuyên Ngài trở về cung điện, nhưng lời thỉnh cầu không được toại nguyện, họ bèn rủ nhau nhẩy xuống giòng suối này tự vẫn.  Nhà vua cảm thương chân tình của họ mà cho lập một ngôi chùa siêu độ để giải oan. Từ đó ngôi chùa và con suối này được mang tên Giải Oan… Rất tiếc, chúng tôi không có đủ thời gian để ghé thăm hai di tích lịch sử này. Hơn nữa, chân thì mỏi mà đường còn xa …chúng tôi phải cố gắng leo thêm nhiều đoạn có bậc đá dốc chênh vênh để tới ga cáp treo thứ nhì (cáp treo Bạch Long) dẫn lên khu an vị tôn tượng Phật Hoàng và Chùa Đồng. 
              Khiếp đảm quá! càng leo lên càng thấy đường xa vòi vọi.  Nhìn lên thấy tượng Phật thật là gần, nhưng leo mãi chẳng tới nơi.  Sợ quá, tôi như muốn bỏ cuộc trong khi những du khách từ chùa Đồng đi xuống khuyến thích chúng tôi “cố lên” “cố lên” – “Gần tới nơi rồi… Ráng đi bu ơi, thầy đâu sao không dìu bu đi cùng?”  Đang mệt lử, bước đi không nổi, nhưng bất chợt nghe mấy cô cậu trẻ tuổi nói giọng Bắc sau này hỏi han như vậy, tôi phì cười quay sang cám ơn họ.  Lâu rồi mới được nghe lại hai tiếng “thầy bu” sao mà thấy lạ thế, làm tôi nhớ lại thời kỳ thơ ấu của mình khi còn ở trong làng Đông Sơn, Thanh Hóa. Tôi đoán nguyên quán của các em phải là Nam Định hay Thanh Hoá gì đó. Biết tôi là người Bắc, họ xúm xít hỏi thăm, rõ là chân tình. Thoáng chốc tôi cảm thấy vui vui. Một kỷ niệm để nhớ mãi. Tôi theo chân khách hành hương len lỏi leo qua các kẽ đá và bậc thang khấp khểnh, trơn ướt.  Từng bước, từng bước chậm chạp mà leo.  Lâu lâu đứng lại thở hổn hển tưởng như muốn đứt cả hơi. Lúc này tôi hơi choáng váng vì cảm thấy sức khoẻ của mình có vẻ như xuống cấp đột ngột.  Tôi dừng lại dưới một gốc cây có bóng mát, hít vào thật sâu và thở ra thật dài. Làm được vài động tác hô hấp như thế tôi thấy khỏe khoắn rồi lại tiếp tục dấn bước leo lên. Càng lên cao không khí càng thoáng đãng, đâu đâu cũng thấy toàn một mầu xanh lục thực đẹp mắt.  Từng cụm hoa vàng, hoa tím dại mọc chen chúc cùng cây cỏ hai bên lối đi. Những gốc cây to bằng ba bốn người ôm trổ những cành lá tua tủa như những cánh tay khổng lồ vươn ra mời mọc.  Không gian tĩnh lặng lạ thường như đưa hồn người vào cõi mộng.  Lòng lâng lâng khó tả.  Đúng là tôi đang ở chốn tiên bồng.  Một cảnh sắc thiên nhiên quá ư là tuyệt mỹ! Xa xa nghe như có tiếng nước chẩy róc rách đều đều. Đi được một quãng, gặp một con suối nhỏ từ triền dốc cao đổ xuống, tôi ghé vào vục nước lên hai bàn tay vã lên mặt.  Nước suối trong vắt mát lạnh như đánh thức tôi trở về thực tại.  Trên đường đi vài ba cô bé đứng mời chào du khách mua đồ lưu niệm và postal card in những thắng cảnh của núi rừng Yên Tử.  Tôi cũng chẳng ngần ngại mua giúp các cô vài tấm. Giá một tấm là 10,000 đồng vn tính ra là 50cents. Thấy họ buôn bán chẳng biết lời lãi được bao nhiêu mà phải vất và leo núi gian nan mời chào khách hàng rõ thực tội nghiệp.  Tôi nghĩ, giúp được người nghèo như mua hàng cho mấy cô bé này chẳng khác như mình đã làm được một việc thiện hoặc như cúng dường tam bảo. 
            Vừa leo núi vừa ngước nhìn lên phía trên, tôi thấy thấp thoáng ngôi tượng Phật Hoàng ẩn hiện sau màn sương mỏng. Tấm bảng chỉ đường đến ga cáp treo thứ hai đã hiện ra trước mắt. Tôi mừng ghê gớm.  Đúng lúc này tôi gặp một toán du khách từ cáp treo bước xuống.  Trong đó có một hai người lớn tuổi.  Bạo dạn tôi ngỏ lời hỏi thăm và được biết có cụ đã trên 80.  Tôi ngạc nhiên và rất thán phục.  Vậy thì có lý do gì khiến tôi phải chùn bước nhỉ?  Các cụ bảo tôi ráng niệm Phật đi. Phật sẽ hộ trì là đi tới nơi thôi! 
         

           Thế là chúng tôi đã đến được ga cáp treo thứ hai và lên tới khu địa linh Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Ôi! đúng là cảnh Phật non Tiên! Chúng tôi mê mÄn loanh quanh tại khu vực này để chụp hình và thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên. Tượng Phật được tạco bằng đá cẩm thạch và được trang nghiêm an vị trên một diện tích khá lớn giữa núi rừng hùng vĩ. Thời tiết trên cao thay đổi liên tục trong ngày, lúc nắng lúc mưa, hầu như luôn luôn có mây lẫn sương mù sà xuống, khiến mầu sắc ngôi tôn tượng cũng thay đổi theo thời tiết - lúc tỏa sáng óng ánh dưới tia nắng soi, lúc mờ mờ, ẩn hiện sau màn sương mờ ảo trông thực huyền diệu. Tôi suýt xoa khen ngợi và chuyện trò cùng các bạn đồng hành, đồng đạo hiện đang đứng chiêm ngưỡng tượng Phật như tôi.  Thực khó mà diễn tả nổi cảm xúc của tôi lúc đó.  Hình như tôi đang ngây ngất trước hiện tượng diệu kỳ của cảnh sắc và vật thể khác lạ như chưa từng thấy trong đời mình.  Tôi chắp tay khấn lạy trước Phật đài như cảm nhận được sự linh thiêng nơi đất Phật.
             Giờ thì chúng tôi phải theo đường chỉ dẫn để lên Chùa Đồng. Đường bậc thang đá từ khu an vị tượng Phật Hoàng tới Chùa Đồng không xa lắm nhưng rất dốc và quanh co khó đi. Càng lên cao sương xuống càng dầy và nặng hạt như mưa. Tôi luôn luôn phải che dù và chiếc gậy trong tay đã giúp tôi đi những bước vững vàng.  Tôi có cảm tưởng như mình là một đứa trẻ con đang tập tễnh bước những bước đi đầu đời.  Bây giờ nhìn lại những bức hình này thấy mà tức cười hết chỗ nói…nào là mũ, là khăn, nào là gậy, lom khom lần mò trên sườn núi trông như một lão bà trong phim kiếm hiệp.  Cứ thế tôi chống gậy leo trên những bậc thang đá trơn ướt và rất thận trọng trong từng bước đi.  Thế mới biết “ở nhà nhất mẹ nhì con, ra đường lắm kẻ còn ròn hơn ta ”.  Tôi như muốn chào thua vì thấy hụt hơi và hai đầu gối mỏi rã rời.  Thực ra tôi vốn là một người năng động, tập thể dục hàng ngày, vậy mà lúc này đây sao tôi lại trở nên đuối sức đến thế.  Hóa ra, tuổi đời của tôi đâu còn trẻ nữa.  Phải chấp nhận thôi. Rồi chợt nghĩ tới câu nói của Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Tôi tự an ủi: “Chắc mình không thuộc vào hạng người ngại núi e sông?”  CÙ th‰ tôi vừa leo lên vừa hít vào thở ra liên tục.  Một cặp vợ chồng trẻ người Nam Định mà chúng tôi gặp từ dưới chân núi, giờ đây đưa tôi chai nước suối và nói:  “Bác uống đi để lấy sức - gần tới Chùa Đồng rồi. - Đã lên được tới đây mà bỏ cuộc thì uổng qúa”.  Lời khuyến khích của họ quả đã thúc đẩy tôi vượt qua được thử thách.  Thế là tôi lại lần từng bậc từng bậc quanh co theo vách đá cao ngất ngưởng để leo lên, leo lên.
            Ôi, chùa Đồng đây rồi!  Ngôi chùa nổi tiếng là linh thiêng đang uy nghi ngay trước mặt. Chỉ còn phải leo một đoạn dốc ngắn nữa là tôi đã đạt thành sở nguyện.  Mừng quá! tôi sẽ được thấy tận mắt ngôi chùa được đúc bằng đồng. Tôi sẽ đứng trên đỉnh cao nhất của núi Yên Tử để tự hào là mình còn phong độ!  Ôi, mới sung sướng làm sao! tôi thở phào khoan khoái.  Thế là lần này chúng tôi được toại nguyện về điều mong ước của mình mà ba năm trước đây chúng tôi chưa thể thực hiện được. Leo lên được tới đây qủa là môt việc quá lớn đối với tôi, vậy có điều gì đã khiến tôi vượt qua mọi gian nan như thế chứ, thực khó giải thích!
             Giờ đây đứng trước ngôi tam bảo nghi ngút khói hương tôi cảm thấy lòng mình tràn dâng một niềm tôn kính khó tả. Tôi bỗng nhớ lại đã đọc những tài liệu tại chùa Trình cũng như được nghe qua lời thuật của khách hành hương mới thấy công trình tạo dựng ngôi chùa Đồng quả là một kỳ công tốn tiền tốn sức biết nhường nào !.
            Được biết ngôi Chùa Đồng khởi thuỷ chỉ là một cái Am nhỏ, đơn sơ có tên là Thiên Trúc Tự, tọa lạc trên đỉnh non thiêng Yên Tử ở độ cao hơn 1,000m so với mặt nước biển. Nơi đây Tam Tổ Trúc Lâm và các thiền sư thường ngồi thiền để “Thân hòa đồng trụ, giới hòa đồng tu ”.  Về sau này, vào thời điểm tái trùng tu, bằng nỗ lực của hàng trăm thợ đúc đồng chuyên môn được tuyển chọn từ tỉnh Nam Định đã phải làm việc vất vả ròng rã hơn một năm trời, dưới cái nóng như thiêu như đốt của những tháng hè, cũng như dưới những trận cuồng phong bão táp, mưa đá, sấm sét đầy trời để biến khoảng đất nhỏ cỡ 2m2 thành một diện tích rộng đến 19m2 dùng làm nền móng, hầu hoàn thành ngôi chùa như ngày hôm nay.  Họ phải đúc từng chi tiết rời ngay tại chân núi Yên Tử.  Mọi vật liệu để trùng tu ngôi chùa hầu như đều được vận chuyển theo đường đá dốc hoặc qua hệ thống ròng rọc tự chế dẫn lên đỉnh núi vì hệ thống tháp treo ngày ấy không thể chuyển tải các vật liệu lớn. Vào ngày khởi công, phật tử từ mọi miền đất nước tề tựu về đây, tụng kinh niệm Phật và đóng góp tịnh tài, cúng đồ trang sức bằng vàng bạc vào các vạc nấu đồng nóng chảy với tâm thành là đóng góp công đức vào việc đúc chùa, đúc tượng. Chùa Đồng được tái khánh thành ngày 12 tháng 12 năm 2007.  Kết qủa là Chùa được đúc lại bằng đồng nguyên chất, nặng trên 70 tấn, chiều dài 4,6m, chiều rộng 3,6m, chiều cao 3,35m.  Cho đến thời điểm này, có thể đây là ngôi chùa được đúc bằng đồng lớn nhất trên thế giới. Chùa được kiến trúc theo truyền thống của chùa Việt Nam với hệ thống các kệ, mái, đầu đao được trang trí tinh xảo. Bệ nền chùa được bọc đồng, đúc hoa văn. Bên trong chùa có hương án bằng đá chạm trổ hoa tiết rất tinh tế. Trong chùa thờ tôn tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Tam Tổ Trúc Lâm.  Tuy gọi là chùa, nhưng vì diện tích khiêm nhường giống như chùa Một Cột ở Hà Nội nên Phật tử chỉ có thể đứng ở phía trước chiêm bái, lễ lạy chứ không thể bước vào bảo điện được.  Ngày nay, du khách muôn phương về chùa Yên Tử, ai cũng mong được lên đỉnh núi cao thắp hương và chiêm ngưỡng ngôi chùa thiêng liêng có một không hai này.
            Nói về tín ngưỡng dân gian, người ta không thể phủ nhận sự linh thiêng của ngôi chùa Đồng mà minh chứng đã cho thấy mặc dù đường rừng dốc dác, trơn tuột, lởm chởm rất nguy hiểm vậy mà chưa từng có tai nạn nào gây chết chóc cho ai bao giờ, và cũng chưa có ai bị sét đánh khi gặp trời mưa sấm sét ở trên đỉnh cao như thế mới lạ. Phật Tử còn có nhiều niềm tin khó mà lý giải về vùng đất Yên Tử trụ nhiều khí thiêng với những cây tùng, cây bách có hàng 700 năm tuổi đã dung nạp được lượng khí thiêng lớn lao, do đó người đau yếu thường tìm về đây để chữa bệnh bằng cách ôm lấy thân cây “tùng cổ” để mong nhận được một phép nhiệm mầu nào đó từ thân cây truyền sang. Họ nói, sau khi được thụ khí từ những gốc tùng cổ, ai nấy đều cảm thấy thân thể được nhẹ nhàng, khoẻ khoắn…như bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ (?). Ngoài ra dân gian còn tin vào những loại lá cây ở rừng núi Yên Tử có thể lấy về làm thuốc Nam chữa trị khỏi nhiều bệnh tật (?).
             Lúc này mưa rơi nặng hạt hơn.  Rất đông du khách và bà con Phật tử hành hương đã lên đây từ lúc nào không biết, họ đang tìm nơi trú ẩn và chen chúc dưới mái chùa Đồng, vây kín chung quanh ngôi cổ tự nhỏ bé, xì xụp thắp nhang khấn vái. Cũng như mọi người, đứng trước ngôi tam bảo trang nghiêm, tôi lâm râm khấn lạy Phật Tổ Như Lai như để cảm tạ đấng thiêng liêng đã ban cho tôi một niềm tin, đã hộ trì cho tôi có đủ nghị lực để hoàn thành ước nguyện của mình.  Trong khoảnh khắc nơi đỉnh thiêng Yên Tử, tôi cảm nhận được sự bình an trong tâm hồn!
                                                              
               Dù cho mưa vẫn rơi và mây mù đan kín cả một vùng rừng núi, nhưng từ đây chúng tôi vẫn có thể thấy được cảnh sắc tuyệt vời của non thiêng Yên Tử trải dài dưới thung lũng xa xa, trông thật thần thoại, thật quyến rũ khiến tôi liên tưởng tới những bức tranh Tầu có các cô tiên nữ đang nhẩy múa trên mấy từng mây. Người ta nói gặp được ngày nắng ráo, chúng ta có thể nhìn bao quát cả vùng Đông Bắc rộng lớn cùng những hòn đảo nhỏ thấp thoáng trong Vịnh Hạ Long. Loanh quanh ở đỉnh núi có đến gần cả giờ đồng hồ, mà trời chẳng có một chút nắng nào.  Ông xã tôi có vẻ không được hài lòng vì đã ao ước sẽ chụp những bức hình độc đáo của chùa Đồng, nào dè thời tiết như vậy biết làm sao hơn là phải nhờ mấy chú chụp hình dạo theo sát chúng tôi mời mọc nẫy giờ để họ chụp cho mình vài tấm làm kỷ niệm. Theo chân du khách, chúng tôi ghé vào mấy Gift Shop nho nhỏ dựng bên góc chùa để tìm mua ít quà làm lưu niệm cho con cháu trước khi rời nơi đây.
              Huyền thoại về Non Thiêng Yên Tử không hẳn chỉ có thế, nhưng theo chương trình đã định, chúng tôi không thể nán lại lâu trên đỉnh cao này được vì phải lần bước qua hai tuyến Cáp treo xuống núi để về kịp chuyến phà chiều đi Hải Phòng. Từng bậc, từng bậc … tôi từ từ bước xuống.  Ngoái trông về phía đỉnh non cao, ngôi chùa Đồng dần khuất sau làn mây trắng mỏng bồng bềnh. Từ xa, tiếng mõ lời kinh vẫn còn dìu dặt vọng theo như để lại trong tôi một ước nguyện viên thành, cũng như đã ghi khắc trong tôi lời dạy của người xưa... 
                                                          “Trăm năm tích đức tu hành
                                                     Chưa về Yên Tử chưa thành quả Tu”
                                                                                                   
         Ỷ Nguyên          
           Maryland, June 2014
             (Đăng trong Cỏ Thơm số Mùa Thu 2014)